Bệnh CMV là gì?

0
364
Cytomegalovirus
Cytomegalovirus

Bệnh CMV do virus Cytomegalo (CMV) thuộc nhóm Herpes gây nên.Đây là bệnh lí rất phổ biến,có thể gặp ở mọi nhóm tuổi,ở mọi hoàn cảnh sống,từ những bất thường bẩm sinh đến các rối loạn bệnh lý, đặc biệt hay ở người suy giảm miễn dịch.  Mặc dù tỷ lệ mắc phổ biến nhưng rất ít người có sự hiểu biết về bệnh CMV,do đó bài viết hôm nay sẽ đề cập đến bệnh lí này.

Bệnh CMV lây truyền như thế nào?

Virus Cytomegalo (CMV) có thể tồn tại trong sữa mẹ, nước miếng, trong máu, phân người và nước tiểu,các dịch tiết sinh dục như tinh dịch hoặc dịch tiết cổ tử cung…, do đó con đường lây truyền cũng theo nhiều kiểu khác nhau. Bệnh nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ rất thường xuyên.

Nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ xảy ra rất thường xuyên. Giai đoạn sớm thì truyền qua nhau thai, trong lúc sinh và trong sữa mẹ. Ở trẻ nhỏ thì truyền qua nước bọt. Lúc lớn thì truyền qua đường sinh dục, CMV hiện diện âm thầm trong tinh dịch và dịch tiết cổ tử cung. Nó cũng truyền qua đường máu hoặc phẫu thuật ghép cơ quan.

Triệu chứng của bệnh là gì?

Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm CMV không có biểu hiện lâm sàng do vậy bệnh chủ yếu được phát hiện tình cờ do bị bệnh khác hoặc khi bệnh có các biểu hiện nặng. Một khi đã bị nhiễm thì người bệnh sẽ mang CMV suốt đời kể cả không có triệu chứng.

Nhiễm CMV trong giai đoạn bẩm sinh:
Trong giai đoạn bẩm sinh,virut xâm nhập qua bánh rau vào trong bào thai,sau đó được các đại thực bào ăn và hình thành tế bào khổng lồ gọi là Cytomegalo, có nhiều nhân nổi bật, nhiều thể vùi trong nhân. Khi một trẻ bị nhiễm CMV ở nhiều cơ quan cũng có thể dẫn đến bất thường bẩm.


Hầu như chỉ những thai nhi có mẹ bị nhiễm CMV lần đầu trong khi mang thai mới có triệu chứng lâm sàng. Gần như các trường hợp CMV bẩm sinh không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt ,thai nhi có thể có nhiều dạng biểu hiện lâm sàng từ không có triệu chứng đến thể nặng và lan rộng toàn thân như đốm mảng xuất huyết, gan, lách to, vàng da (60-80%), teo não và đầu nhỏ, nhu mô não bị vôi hóa, chậm phát triển trong tử cung(30-50%) – suy dinh dưỡng bào thai, thoát vị bẹn và viêm võng mạc…

Trong trường hợp tiên lượng xấu, tỉ lệ tử vong chiếm tới 20 – 30% ,do đó gần như các trường hợp mẹ mang thai có nhiễm CMV thường hay lưu thai hoặc sảy thai,  nếu thai còn sống sót thì sau này, 5-25% sẽ bị chậm phát triển tâm thần, mù, điếc hoặc răng hỏng bất thường.

* Nhiễm CMV chu sinh: 
Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm CMV trong lúc sinh khi ngang qua âm đạo hoặc nhiễm sau sinh khi bú sữa mẹ hay do tiếp xúc với các dịch tiết khác của mẹ ( 40 – 60 % trẻ sơ sinh bú mẹ hơn một tháng mà mẹ có huyết thanh dương tính với CMV sẽ bị lây nhiễm)

 Đa số các trường hợp nhiễm CMV chu sinh đều không có triệu chứng, một vài triệu chứng có thể gặp như cân nặng lúc sinh thấp, viêm hạch, viêm phổi kẽ kéo dài,nổi mẩn, viêm gan, tế bào lympho tăng và thiếu máu.

* Nhiễm CMV ở trẻ em lớn và người lớn:
Nhiễm CMV ở trẻ em lớn và người lớn gây ra Hội chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh 20 – 60 ngày, xuất hiện triệu chứng bệnh sau 2 – 6 tuần với các triệu chứng: sốt kéo dài, đôi khi lạnh run, suy yếu, khó chịu; đau cơ, lách to, viêm họng xuất tiết và viêm hạch ở cổ;…bất thường chức năng gan và bệnh lý lympho bào. Bệnh thường nhẹ, hầu hết bệnh nhân hồi phục không di chứng nhưng viêm gan cận lâm sàng lại thường gặp. Rất hiếm khi nhiễm CMV đưa đến tử vong, trừ các trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệt ở bệnh nhân được ghép thận, ghép tủy có sử dụng thuốc ức chế miễn dịch để lại biến chứng viêm phổi mô kẽ với tỷ lệ cao.

Điều trị và dự phòng bệnh.

-Hiệnchưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh CMV, do đó việc điều trị chủ yếu là :

+ Tăng cường đảm bảo dinh dưỡng, chế độ ăn đa dạng phong phú,an toàn thực phẩm tránh rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy,nôn mửa… Phòng chống bội nhiễm bằng chế độ vệ sinh hàng ngày.Đề phòng rối loạn nước điện giải
+Tăng cường miễn dịch bằng biện pháp thay thế để dự phòng nhiễm khuẩn cho những người bị các bệnh thiếu hụt IgG và các kháng thể khác, liều IGIM (Globulin miễn dịch) khởi đầu là 1,2 ml/kg. Sau đó dùng liều duy trì 0,6 ml/kg (ít nhất là 100 mg/kg) cách 2 – 4 tuần tiêm 1 lần; một vài người có thể cần phải tiêm nhiều lần hơn (khoảng cách thời gian ngắn hơn). Liều duy nhất tối đa là 30 – 50 ml cho người lớn và 20 – 30 ml cho trẻ em và trẻ nhỏ.
+ Sử dụng thuốc Ganciclovir nhằm làm giảm mức độ suy giảm miễn dịch theo chỉ định của bác sĩ
– Hiện vẫn chưa có vaccine dự phòng CMV, tuy nhiên có thể sử dụng CMV-globulin miễn dịch tiêm để hạn chế bớt các trường hợp nhiễm khi ghép tạng hoặc dự phòng nhiễm cho các bé có mẹ nhiễm tiên phát CMV trong lúc mang thai, Acyclovir hay valacyclovir có thể hạn chế bớt sự lây nhiễm CMV cho người nhận tạng ghép. Đồng thời trước khi tiến hành các thủ tục y tế như truyền máu,cấy tạng cần sàng lọc kĩ máu,sàng lọc tủy xương trước khi đưa vào cơ thể. Trẻ nhiễm bệnh thể vùi tế bào khổng lồ Cytomegalo có thải virus qua nước tiểu cần được cách ly an toàn với những trẻ khác.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here