Ung thư đại tràng và cách điều trị ( kì 2)

0
292

3. Chẩn đoán ung thư trực tràng

Ung thư trực tràng giai đoạn sớm thường không có triệu chứng hoặc nếu có, các triệu chứng không rầm rộ và không đặc hiệu. Đây là nguyên nhân mà đa số bệnh nhân UTTT đến muộn, ngay cả những nước phát triển. Một số nước như Anh, Mỹ, Thụy Điển… đã tiến hành sàng lọc cộng đồng tìm máu ẩn trong phân nhằm phát hiện bệnh trong giai đoạn sớm.

–  Triệu chứng cơ năng: triệu chứng có sớm và thường xuyên là đại tiện phân có máu, đây cũng là dấu hiệu đầu tiên khiến bệnh nhân quan tâm và đi khám bệnh. Ở giai đoạn sớm, các triệu chứng thường mơ hồ không đặc hiệu. Khi bệnh tiến triển ở giai đoạn muộn hơn, thường thể hiện hội chứng trực tràng và rối loạn tiêu hóa, đại tiện nhiều lần trong ngày, không ra phân mà chỉ ra chất nhầy như mũi dễ nhầm với bệnh kiết lỵ hoặc phân có lẫn máu. Phân táo bón xen kẽ với phân lỏng. Khi khối u lớn gây hẹp long trực tràng, bệnh nhân đại tiện phân thay đổi hình dạng khuôn nhỏ hoặc dẹt. Ở giai đoạn muộn hơn, biểu hiện rối loạn tiêu hóa nặng nề hơn, đại tiện mất tự chủ, phân nhão, lỏng hoặc chất nhầy thường chảy dầm dề qua hậu môn. Triệu chứng đau: lúc đầu chỉ có cảm giác tức đầy hậu môn, về sau đau rõ rệt ở vùng tầng sinh môn, đau rát hậu môn sau mỗi lần đi đại tiện, có khi đau dữ dội và liên tục.

–  Thăm trực tràng: tư thế khám nằm ngửa hoặc quỳ sấp với những u trực tràng thấp, khi sờ chạm u cần xác định vị trí khối u, khoảng cách bờ dưới u đến mép hậu môn, kích thước u về độ cao, độ phát triển so với chu vi trực tràng, mức độ di động, xâm lấn các tạng xung quanh và mức độ di động bằng cách dùng ngón tay đẩy khối u lên cao hoặc đẩy sang bên để đánh giá khối u còn di động không hay đã xâm lấn dính chặt vào các tạng lân cận. Tổn thương thường gặp là u sùi nhiều nụ cứng, nhưng mủn hay một ổ loét và thành trực tràng xung quanh nhiễm cứng. Nếu là sarcom chỉ thấy u đẩy niêm mạc vào phía lòng trực tràng trong khi niêm mạc vẫn có thể trơn láng. Khi rút tay thường có máu theo găng. Ở phụ nữ, phối hợp thăm âm đạo để đánh giá sự xâm lấn của UTTT và phân biệt với ung thư cổ tử cung.

–  Khám bụng: không phát hiện gì đặc hiệu ở giai đoạn sớm. Chỉ có thể sờ chạm những khối phân ứ đọng vùng hố chậu trái. Các dấu hiệu di căn ở giai đoạn muộn có thể gặp như bụng có ổ dịch cổ trướng, gan to lổn nhổn nhiều nhân, nhiều hạch bẹn to. Khi u chit hẹp sẽ gây nên các triệu chứng bán tắc ruột hoặc tắc ruột.

–  Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu hoặc sốt là những triệu chứng hay gặp ở hầu hết các trường hợp đến với giai đoạn muộn, dấu hiệu di căn hạch cũng có thể phát hiện, nhất là hạch thượng đòn.

–  Nội soi trực tràng: nội soi ống cứng có khả năng soi được từ 20 – 25 cm đoạn cuối cùng của ống tiêu hóa, phát hiện các tổn thương, các polyp ở ống hậu môn, trực tràng và một phần đại tràng sigma. Nội soi đại trực tràng bằng ống mềm cho phép quan sát trực tiếp các tổn thương từ hậu môn đến manh tràng. Qua hình vẽ nội soi sẽ đánh giá được về vị trí xâm lấn, chu vi, tính chất bề mặt, các tổn thương phối hợp như loét… hình ảnh điển hình của UTTT là u sùi, dễ chảy máu.

–  Siêu âm nội soi trực tràng: là phương pháp cận lâm sàng mới. Đây là tiến bộ mới trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh lý các cơ quan vùng chậu. Siêu âm soi trực tràng được Hederbrandt và Feifel mô tả đầu tiên vào năm 1985. Ông dùng kĩ thuật này để đánh giá sự xâm lấn của ung thư tại thành trực tràng, các tạng xung quanh và sự di căn hạch. Ngày nay, SANSTT đã được phổ biến trên thế giới và đã trở thành kĩ thuật thường quy trong chẩn đoán và điều trị UTTT. Bình thường, SANSTT với đầu dò có tần số 50MHz, 7,5 MHz, 12 MHz và 20 MHz cho thấy hình ảnh trực tràng có 5 vòng: 3 vòng phản âm dày màu trắng và hai vòng phản âm kém màu đen. Các vòng có vòng phản âm dày và các vòng có vòng phản âm kém xen kẽ nhau, đồng tâm. Tính từ trong ra ngoài:

+       Vòng thứ nhất phản âm dày, tương ứng với mặt phân cách giữa bóng cao su trong lòng ống tiêu hóa (chứa nước bao quanh đầu dò từ 50-60ml) và niêm mạc.

+        Vòng thứ 2, phản âm kém, tương ứng với niêm mạc và lá cơ niêm.

+         Vòng 3 phản âm dày hay vòng trung tâm, tương ứng với mặt phân cách của nó với lớp cơ.

+        Vòng thứ 4, phản âm kém, tương ứng với lớp cơ thành ruột.

+        Vòng thứ 5, phản âm dày, tương ứng với mặt phân cách của lớp cơ với lớp mỡ quanh thành ruột.

Hình ảnh di căn hạch trong siêu âm trực tràng thường có hình tròn hoặc hình ovan, biểu hiện của phản âm kém (hypoechoic) so với mô mỡ quanh trực tràng. Phân giai đoạn hạch của Hiderbrant – Feifel.

·   U NO (*): không có hạch di căn

·   U N1: có hạch di căn

(*) UN: dùng để chỉ giai đoạn di căn hạch theo phân loại SANSTT.

Chụp X quang tim- phổi: được tiến hành thường quy, để phát hiện những tổn thương di căn của UTTT tới phổi hoặc cơ quan trong lồng ngực.

Chụp cản quang khung đại tràng: những trường hợp thăm trực tràng không sờ chạm u hoặc ở bệnh nhân có các chống chỉ định, lúc đó việc xác định các tổn thương ở đại tràng chỉ có thể xác định được qua hình ảnh chụp Xquang khung đại tràng. Các hình ảnh UTĐTT trên phim chụp khung đại tràng thường là hình khuyết, hình thắt hẹp, hình đường rò hay hình tắc thuốc. Để phân biệt hình ảnh X quang u lành tính hay UTĐTT, Wellin đã đưa ra một số nhận định rất giá trị dựa vào kích thước u, tốc độ phát triển, hình dáng khối u.

Có thể áp dụng chụp đối quang kép đại tràng để tăng khả năng phát hiện các tổn thương kết hợp của đại tràng phía trên UTTT, tránh bỏ sót các polyp che lấp các đứt khúc niêm mạc, các khối u kích thước nhỏ. Siêu âm ổ bụng được tiến hành thường quy cho bệnh nhân UTTT nhằm phát hiện các ổ ung thư di căn tại gan, đường mật và các cơ quan khác. Siêu âm trong mổ (intra operative ultrasound imaging) được áp dụng với những trường hợp có ổ di căn gan nhỏ, kích thước dưới 1cm. Trên thực tế, những phương pháp này chỉ được cân nhắc tiến hành ở những UTTT đặc biệt vì giá thành còn quá đắt, việc áp dụng phương pháp này còn chưa phổ biến.

Xét nghiệm CEA và CA 19-9: CEA (carcino – embryonic antigence) là kháng nguyên ung thư biểu mô phôi. Kháng nguyên ung thư này được tìm thấy ở UTTT và một số ung thư khác. Thực tế, độ nhạy cảm của CEA rất thấp trong trường hợp ung thư trực tràng giai đoạn sớm, thậm chí khi bệnh lan rộng, tái phát hoặc di căn xa thì vẫn có khoảng 20% bệnh nhân xét nghiệm CEA vẫn âm tính. Do đó , không dùng CEA như một marker chung cho tất cả các loại ung thư. Nó phối hợp với các marker khối u khác để làm tăng độ nhạy của chẩn đoán. Đối với UTTT thường áp dụng hợp CEA với CA 19-9. Do nồng độ CEA và CA 19-9 liên quan phù hợp kích thước khối u cũng như chu kì tái phát sau phẫu thuật nên được dùng để tiên lượng và theo dõi bệnh nhân trước và sau cắt bỏ khối u hoặc sau mỗi lần thay đổi phác đồ điều trị.

Xét nghiệm gen: để xác định một cách chính xác cá thể có khả năng mắc bệnh ung thư, ngày nay các nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu bản chất của ung thư ở cấp độ phân tử bằng xét nghiệm gen (genetic testing), can thiệp ngay ở mức độ phân tử bằng các liệu pháp gen. Tuy nhiên, xét nghiệm gen cũng có nhiều nhược điểm vì bản chất của nó không thể kết luận về tình trạng bệnh. Vì vậy, ngay cả ở các nước phát triển, xét nghiệm gen vẫn chưa được phổ biến.

S&T

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here