Tai biến mạch máu não

0
665

Tai biến mạch máu não được coi là nguy hiểm thường gặp ở người cao tuổi nếu được điều trị trong những giờ đầu thì khả năng hồi phục của bệnh nhân khá cao. Điều trị TBMN nhằm mục đích phòng các biến chứng, khôi phục tổn thường cấp tính của nhu mô não và phòng đột quỵ tái phát.

Tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não (hay đột quỵ)

Là một rối loạn khu trú chức năng của não có tiến triển nhanh trên lâm sàng, nguyên nhân thường do một mạch máu não bị vỡ hoặc tắc. TBMN có các loại tổn thường chính là chảy máu não, chảy máu màng não và nhũn não hoặc phối hợp các loại. 

Các triệu chứng 

Triệu chứng tai biến dạng nhẹ:

Triệu chứng đột quỵ nhẹ có thể xảy ra ở người sức khỏe bình thường, chưa phát hiện bệnh. Các triệu chứng thường là:

  • Nhức đầu vào ban đêm, thường nhức môt bên đầu.
  • Chóng mặt, ù tai, một số người có triệu chứng sưng huyết ở mặt.
  • Các dấu hiệu khác của tai biến mạch máu não nhẹ là chảy máu cam hoặc nghiêm trọng hơn là chảy máu võng mạc.

Ở giai đoạn này, có thể bệnh nhân sẽ đột ngột ngã và hôn mê lập tức. Tuy nhiên vẫn có trường hợp đầu đau dữ dội và người bệnh bị thu hẹp ý thức dần dần rồi bước vào giai đoạn phát bệnh nặng hơn.

Triệu chứng tai biến dạng nặng:

Đột quỵ não dạng nặng có các triệu chứng nguy hiểm. Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết cụ thể về triệu chứng tai biến mạch máu não dạng nặng.

– Hôn mê do đột quỵ não

Người bệnh sẽ rơi vào hôn mê sâu, các chức năng tiếp ngoại, chức năng thực vật bị rối loạn.

Các dấu hiệu của hôn mê sâu thường là:

  • Mặt tái nhợt, không có sức sống.
  • Toàn cơ thể bất động.
  • Không còn phản xạ giác mạc và phản xạ đồng tử mắt.
– Bị tai biến liệt nửa người

Người bệnh đột ngột không cử động được một phần hoặc toàn bộ cơ thể, khuôn mặt. Triệu chứng tai biến mạch máu não này kéo dài có thể khiến người bệnh bị liệt hoặc suy giảm chức năng một nửa cơ thể.

Liệt nửa người kèm theo nhiều dấu hiệu khu trú khác như:

  • Bên liệt có dấu hiệu giảm trương lực cơ bao gồm cả cơ mặt.
  • Bệnh nhân nằm nghiêng đầu, hướng về phía bên bị liệt.
  • Đồng tử mắt giãn một bên hướng về phía bị liệt

Ngoài ra, để xác định cụ thể cần phải thông qua chẩn đoán của bác sĩ và thực hiện nghiệm pháp quy định, kiểm tra trương lực cơ, thử nghiệm lâm sàng…

Biến chứng tai biến mạch máu não

những biến chứng thường gặp nhất.

  • Liệt nửa người: Theo thống kê, có tới 92% người bị tai biến mạch máu não bị chứng liệt nửa người. Đây là di chứng nặng nề nhất, người bệnh gặp khó khăn trong đi lại, cử động tay chân. Họ dễ mắc thêm chứng rối loạn tâm lý do mang mặc cảm tự ti vì mình là gánh nặng của gia đình.
  • Rối loạn ngôn ngữ: thường biểu hiện qua triệu chứng không phát âm được. Cụ thể, người bệnh sẽ bị méo tiếng, phát âm bị mất nguyên âm cuối. Trong trường hợp nặng, có người sau tai biến trở nên nói bập bẹ như trẻ mới tập nói.
  • Không tự chủ tiểu tiện: đây là biến chứng thường thấy nhất với người bị tai biến mạch máu não. Việc không tự chủ tiểu tiện mang đến những bất tiện trong cuộc sống, dễ làm người bệnh cáu gắt, mệt mỏi và bức bối.

Bên cạnh những di chứng nặng nề, sau khi bị tai biến, người bệnh còn phải đối mặt với nguy cơ tái phát với những hậu quả, chi phí điều trị cao gấp nhiều lần so với lần đầu bị tai biến.

Tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não

 Điều trị tai biến mạch máu não

Điều trị TBMN nhằm mục đích phòng các biến chứng, khôi phục tổn thường cấp tính của nhu mô não và phòng đột quỵ tái phát.

 Phòng biến chứng

1. Chống phù não:
a. Bằng các dung dịch ­ưu trương:
Mannitol truyền nếu truyền quá 48 h, nên giảm dần liều mannitol để tránh gây phù não hồi lại do thuốc. Nói chung mannitol không nên truyền quá 3 ngày, nếu muốn truyền nhiều hơn, nên có khoảng nghỉ để thải thuốc, tránh tác dụng gây tăng áp lực nội sọ thứ phát.
Cho đến nay, mannitol vẫn là biện pháp hàng đầu để chống phù não. Khi mannitol bắt đầu giảm tác dụng mà vẫn cần giảm áp, nên cân nhắc truyền dịch muối ­u trương hoặc giảm áp bằng phẫu thuật.
b. Tăng thông khí có kiểm soát trong thời gian ngắn , gây kiềm hoá máu, co mạch não và giảm thể tích máu não, do đó làm giảm đáng kể áp lực nội sọ, tác dụng này xuất hiện ngay sau 20 phút nhưng cũng nhanh chóng mất đi sau 12 giờ do hệ thống đệm trong cơ thể sẽ trung hoà tác dụng này, vì thế chỉ nên coi tăng thông khí­ một biện pháp cấp cứu tạm thời .
c. Barbiturate: làm giảm thể tích dòng máu não do co mạch. Biến chứng có thể xảy ra là giảm huyết áp nặng gây hạ áp lực t­ới máu não.
2. Kiểm soát huyết áp động mạch:
a. Mặc dù rất nhiều bệnh nhân TBMN có tăng huyết áp song  đa số trường hợp huyết áp sẽ giảm tự nhiên. Nếu tình trạng tăng huyết áp vẫn còn, không nên hạ huyết áp xuống đột ngột vì điều này làm rối loạn cơ chế tự điều hoà mạch não, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu não ranh giới với tổn thường, làm triệu chứng lâm sàng nặng thêm. Giảm mức độ tăng huyết áp bắt buộc phải làm trong một số trường hợp như­ có triệu chứng bệnh tim nặng, tăng huyết áp ác tính, phình tách động mạch chủ và ở bệnh nhân điều trị tăng huyết áp.
b. Duy trì huyết áp tâm thu < 185 mmHg và huyết áp tâm trương < 110 mmHg. Những bệnh nhân có huyết áp quá cao (HA tâm thu ≥ 220 mmHg, HA tâm trương ≥ 120 mmHg) phải hạ áp ngay, tuy nhiên nên giảm từ từ HA tâm thu xuống 170-180 mmHg và HA tâm trương xuống 95-100 mmHg. Sau đó nếu vẫn tồn tại triệu chứng liên quan đến tăng huyết áp, có thể hạ tiếp HA tâm thu còn 150-160 mmHg và HA tâm trương còn 90-95 mmHg.
c. Không nên dùng Nifedipine dưới l­ỡi để hạ HA cấp khi TBMN vì khả năng hạ HA quá nhanh cũng như­ tác dụng bất lợi lên cơ chế điều hoà máu não sẽ làm đột quỵ nặng hơn. Nên tránh dùng các thuốc hạ áp có thể gây tăng áp lực nội sọ nh­ các thuốc giãn mạch trực tiếp (Sodium Nitroprusside, Nitroglycerin, Hydralazin) và các thuốc chẹn kênh canxi, nhất là ở những bệnh nhân nhồi máu diện rộng gây phù nề và doạ tụt não. Các  nhóm thuốc hạ áp khác nh­ư ức chế men chuyển, chẹn bêta giao cảm có tác dụng hạ áp tốt mà không gây tác dụng phụ đối với huyết động của mạch máu não, có thể uống .
3. Phòng huyết khối tĩnh mạch sâu và tắc động mạch phổi: bằng Heparin tiêm dưới da hoặc Heparin trọng l­ượng phân tử thấp liều dự phòng, hoặc đi ủng khí để ép cẳng chân nếu có chống chỉ định dùng Heparin.
4. Phòng viêm phổi do sặc hoặc trào ngược:
a. Gần một nửa số bệnh nhân TBMN có nuốt khó, từ đó có thể gây sặc và viêm phổi (15%). Nguy cơ này cao nhất ở bệnh nhân tổn thương gốc các động mạch não lớn (80-90%), nguy cơ vừa ở bệnh nhân nhũn nửa bán cầu (40-60%) và thấp nhất (10-15%) ở bệnh nhân nhồi máu não nhỏ.
b. Bệnh nhân khó nuốt nên cho ăn qua ống thông mềm trong tuần đầu tiên. Nếu tình trạng khó nuốt còn kéo dài, nên mở thông dạ dày hoặc hỗng tràng để cho ăn và làm giảm nguy cơ biến chứng trào ngược.
c. Phối hợp thêm với các thuốc kháng cholinergic nh­Aatropine hoặc Glycopyrrolate để giảm tiết dịch vị và giảm nguy cơ viêm phổi do trào ngược.
5. Kiểm soát đường máu: rất nhiều bệnh nhân TBMN có đái tháo đường thực sự hoặc tình trạng tăng đường huyết thoáng qua, cả hai đều làm nặng thêm tổn thường não. Do đó, khuynh h­ướng hiện nay là kiểm soát tích cực tình trạng tăng đường máu ở bệnh nhân đột quỵ, duy trì đường máu < 170 mg/dl (< 9,5 mmol/l), dùng Insulin nếu cần.
6. Kiểm soát thân nhiệt:bằng thuốc hạ sốt hoặc đắp chăn/khăn lạnh. Giảm thân nhiệt từ mức độ nhẹ vừa sẽ hạn chế lan rộng tổn thường não thứ phát, giảm áp lực nội sọ và giảm tỷ lệ tử vong. Tác dụng phụ hay gặp là giảm số l­ợng tiểu cầu và tăng tỷ lệ viêm phổi. Khuynh hư­ớng hạ thân nhiệt sớm ngay trong 6 giờ đầu kể từ khi khởi phát đang được nghiên cứu.

Tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não

7. Theo dõi và chăm sóc:

a. Nên để bệnh nhân ở đơn vị TBMN, theo dõi sát tình trạng thần kinh, các dấu hiệu sinh tồn và chăm sóc toàn diện .
b. Trong giai đoạn cấp cần áp dụng các kỹ thuật cấp cứu nội khoa nhằm đảm bảo đường thở thông thoáng, duy trì cân bằng n­ước điện giải, kiềm toan, dinh dư­ỡng tốt qua đường miệng, qua ống thông dạ dày hoặc nuôi dư­ỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch.
c. Thực hiện tốt vệ sinh cho người bệnh nh­ư  vệ sinh răng miệng, thay quần áo, vệ sinh ngoài da, vệ sinh đường tiểu, cho nằm đệm n­ước và xoay trở bệnh nhân chống loét mục da ở các điểm tỳ đè, vỗ rung lồng ngực chống ứ đọng ở phổi để tránh biến chứng nhiễm trùng do nằm tại chỗ lâu.
Phục hồi chức năng sớm và tích cực ngay sau khi TBMN hồi phục, luyện tập phòng co cứng các cơ, khớp, huyết khối… Ban đầu việc luyện tập phải do nhân viên y tế thực hiện và sau đó huấn luyện cho người nhà để khi về nhà có thể tiếp tục tập cho bệnh nhân.
8. Phẫu thuật mở hộp sọ hoặc dẫn l­ưu não thất: làm giảm áp lực nội sọ, tránh tụt não, giúp cứu sống bệnh nhân và ngăn ngừa các tổn thường không hồi phục. Tuy nhiên chỉ định và thời gian tối ­u để mở hộp sọ còn cần nghiên cứu thêm.
9. Song song với những việc này, phải tiếp tục điều trị nguyên nhân gây đột quỵ và các yếu tố nguy cơ của TBMN nh­ tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh van tim, rối loạn nhịp tim, rối loạn lipid máu, béo phì, hút thuốc lá, nghiện rư­ợu…

Tai biến mạch máu não gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm có thể mất hoàn toàn kha năng vân động và để lại các di chứng . Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.

Mọi vấn đề về sức khỏe, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây